Quyên Thanh công chúa (Vương Cô Đệ Nhất).

     Quyên Thanh công chúa được phối thờ trong hậu cung đền Thượng – Đền Cửa Ông cùng với thân phụ và thân mẫu của mình. Tục truyền, Quyên Thanh là tiên nữ hạ phàm đầu thai xuống làm con nhà họ Trần để đem lại rạng danh cho dòng tộc và vương triều. Trong hệ thống đạo Mẫu, Quyên Thanh được tôn là Đệ Nhất Vương Cô hoặc còn được gọi là Vương Cô Nhất.
     Quyên Thanh công chúa là Hoàng hậu của vua Trần Nhân Tông tên húy là Trần Thị Trinh, là con gái lớn (trưởng nữ) của danh tướng Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, mẹ là Nguyên Từ quốc mẫu Thiên Thành. Khi chưa vào cung, do cha là người có công lao rất lớn nên tuy không phải con vua nhưng bà vẫn được phong tước vị là Quyên Thanh Công chúa.
     Nếu như vua Trần Nhân Tông nổi tiếng về tài đức, sau khi xuất gia đã sáng lập ra thiền phái Trúc Lâm và được suy tôn là Điều Ngự Giác Hoàng thì vợ của ông – Quyên Thanh (Bảo Thánh Hoàng hậu) lại được sử sách ca tụng là người “đức tốt trong cung, rạng rỡ đáng chép”. Đặc biệt, Bảo Thánh Hoàng hậu còn nổi danh bởi sự gan dạ, là tấm gương hiếm có trong giới nữ lưu chốn cung đình.
     Từ nhỏ, Quyên Thanh là người tính tình nhu mì, thông minh sáng suốt, có nhân đối với kẻ dưới nên ai ai cũng yêu mến quý trọng; lớn lên trở thành một thiếu nữ xinh đẹp, đức hạnh. Sinh trưởng trong gia đình quý tộc mẫu mực nên Quyên Thanh chịu ảnh hưởng sâu sắc sự trung hiếu, am hiểu binh thư võ nghệ từ thân phụ; tính cương quyết dám vượt lên khuôn phép ràng buộc, gò bó của thân mẫu. Năm Giáp Tuất (1274) Quyên Thanh được gả cho Thái tử Trần Khâm và được lập làm Hoàng Thái tử phi. Tháng 10 năm Mậu Dần (1278) Thái tử được cha là Trần Thánh Tông nhường ngôi, lấy niên hiệu Thiệu Bảo (tức Trần Nhân Tông), sau đó không lâu, đầu năm Kỷ Mão (1279) vua ban chiếu lập Quyên Thanh làm Bảo Thánh Hoàng hậu.
     Là người sáng suốt, nhân từ, Bảo Thánh Hoàng hậu còn là người mưu trí, dũng cảm. Thời vua Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông chỉ huy cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên- Mông xâm lược, bà đóng vai trò rất quan trọng ở chốn hậu cung và ổn định nội tình nơi cung thất, thậm chí có lần còn trực tiếp “thanh gươm yên ngựa” xông pha trận mạc giết giặc khiến chúng kinh hồn. Tương truyền trong một số trận đánh quân Nguyên – Mông, Bảo Thánh còn sát cánh cùng phụ vương Trần Hưng Đạo, vì thế ở nhiều đền miếu thờ vị danh tướng kiệt xuất đều đặt tượng bà ở cạnh.
     Sự quả cảm của Bảo Thánh Hoàng hậu còn được sử sách ghi lại qua hai câu chuyện bà quên mình bảo vệ vua. Theo đó, Trần Nhân Tông có một thú vui là được xem quân lính đấu với hổ vì thế ông đã cho làm chuồng đấu hổ ở Vọng Lâu.
     Sách Đại Việt sử ký toàn thư còn cho biết, vào một lần khác, Trần Nhân Tông đang ngự tại điện Thiên An, xem đấu voi ở Long Trì. Con voi bỗng nhiên sổng thoát định xông lên điện tới nơi vua ngồi, khiến tả hữu sợ hãi chạy tán loạn, chỉ có Bảo Thánh không dao động, bình tĩnh đối phó với thú dữ, bảo vệ nhà vua…
     Sử thần Ngô Sĩ Liên khi nhắc đến Bảo Thánh đã ca ngợi rằng: “Voi và hổ là bậc hung dữ, ai cũng phải sợ, thế mà lúc voi, hổ hung tợn làm ngang, Hoàng hậu vẫn thản nhiên không sợ. Hoàng hậu thực sự là một anh hùng trong đám nữ lưu vậy” (Đại Việt sử ký tiền biên).
     Tháng chín năm Quý Tỵ (1293) Bảo Thánh Thái hậu bị bệnh, từ Vua quan đến dân chúng đều lo lắng, cầu khấn mong bà sớm qua khỏi nhưng biết bệnh tình ngày càng trầm trọng, Thái hậu đã ủy thác cho em gái là Tuyên Từ thay mình chăm sóc con trai bà là vua Trần Anh Tông và còn dặn dò các đại thần nên tận trung báo quốc, vì nước vì dân. Đến ngày 13 tháng Chín năm đó thì bà mất tại cung Lỗ Giang, phủ Long Hưng (nay thuộc Thái Bình) để lại bao tiếc thương. Được tin vợ qua đời, vua Trần Nhân Tông lúc này đã làm Trúc Lâm đại sĩ đã cùng vua Trần Anh Tông và quần thần tổ chức tang lễ, đưa thi hài bà về táng ở bên lăng các tiên đế.