Tứ Vị Vương Tử Trần Triều

   Tứ vị Vương Tử Trần Triều trong tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần các ngài đều là con trai của Đức Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, đều là danh tướng lập nhiều chiến công trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông, bao gồm:Đức Thánh Cả Hưng Vũ Vương Trần Quốc Nghiễn (Hưng Vũ vương Nghiễn), Đức Thánh Phó Hưng Hiến Vương Trần Quốc Uất (Hưng Hiến vương Uất), Đức Thánh Tam Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng, Đức Thánh Tứ Hưng Trí Vương Trần Quốc Hiện (Hưng Trí Vương Hiện).Tại Đền Cửa Ông đầy đủ 4 vị Vương tử Trần Triều trong hậu cung Đền Thượng và thần chủ Đền là Đức Ông Hưng Nhượng Đại Vương trần Quốc Tảng.
                                                        

Các vi Hoàng tử đều là danh tướng lập nhiều công lao trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông. Năm 1284, cùng với Hưng Nhượng Vương Tảng, Hưng Vũ Vương Nghiễn, Hưng Hiến Vương Uất, , Hưng Trí Vương Hiện đốc suất 20 vạn quân các xứ Bàng Hà, Na Sầm, Trà Hương, Yên Sinh, Long Nhãn đến hội ở Vạn Kiếp, theo quyền điều khiển của Hưng Đạo Vương để chống quân Nguyên”. Trong trận Vạn Kiếp (năm 1285), Hưng Đạo Vương giao chiến với Thoát Hoan và Lý Hằng, đánh bại giặc. Lý Quán đem quân hộ vệ Thoát Hoan chạy về Bắc. Đến châu Tư Minh, Hưng Vũ Vương đuổi kịp, dùng tên tẩm thuốc độc bắn trúng Lý Quán, Quán chết. Quân Nguyên tan vỡ lớn.                                                                                         

      Trong dịp định công dẹp giặc vào tháng 4 năm Kỷ Sửu (1289) Hưng Vũ Vương Trần Quốc Nghiễn được phong Khai quốc công. Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng phong làm Tiết độ sứ, cả bốn vị Hoàng tử đều được ghi tên vào sách Trung hưng thực lục và được vẽ tranh. Hưng Vũ  Vương Trần Quốc Nghiễn, sau khi đánh giặc Nguyên, về ở xã Chương Mỹ, huyện Thuỷ Đường (tức huyện Thuỷ Nguyên bây giờ) xưa thuộc tỉnh Hải Dương, chiêu tập lưu dân làm ăn yên ổn. Khi mất được dân lập đền thờ phụng.Tại Đền Cửa Ông thờ Thần chủ Đền là  Quốc Khảo Hưng Nhượng Đại Vương Trần Quốc Tảng (1252-1313) do ông có nhiều công lao to lớn trong công cuộc chống giặc ngoại xâm Nguyên Mông.Trong lịch sử nghìn năm dựng nước, tại những vùng biên cương của Tổ quốc, các vương triều nước ta luôn

cắt cử những vị tướng tài ra trấn giữ. Sau cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông thắng lợi rực rỡ lần thứ hai (1285), vua Trần Nhân Tông và Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn càng nhận rõ vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng của vùng biển đảo Đông Bắc. Đó cũng là lý do Trần Quốc Tảng, một vị tướng tài được cử ra trấn giữ vùng biên cương này.Năm Trùng Hưng thứ nhất (1285), quân Nguyên Mông xâm lược đất nước ta lần thứ hai. Được tin đại quân do Trần Hưng Đạo phải đối phó với thế mạnh như chẻ tre của giặc, rút về Vạn Kiếp, Trần Quốc Tảng liền mang quân của mình từ trang ấp riêng tại An Sinh (Đông triều), cùng các cánh quân Hải Đông, Vân Trà, Bà Điểm hội binh, xin làm tiên phong đánh giặc. Sau khi cuộc kháng chiến thắng lợi, Trần Quốc Tảng, là dũng tướng có công nên được nhà vua khen tặng cấp cho đất lập trang ấp tại Tĩnh Bang (Quảng Ninh). Sau này, ông hai lần được vua cắt cử ra Cửa Suốt trấn ải.Sau khi Hưng Nhượng Vương ra trấn giữ cửa Suốt, năm Trùng Hưng thứ tư (1288) quân Nguyên lại kéo quân sang xâm lược. Hưng Nhượng Vương xin triều đình lập công chuộc tội. Được chuẩn tấu, Hưng Nhượng Vương tiến quân, lập đồn ở Trắc Châu, huyện Thanh Lâm. Trải qua ba ngày đêm, ông đem quân đánh thẳng vào trại của quân Nguyên đóng ở sông Bạch Đằng và chiến thắng oanh liệt. Hưng Nhượng Vương về triều báo công, được vua Trần khen thưởng và phong làm Suất Ti-tuần Đại An, được cử ra Cửa Suốt tiếp tục trấn giữ.Như vậy, lần đầu bị tội mà Trần Quốc Tảng bị cha đày ra Cửa Suốt. Lần thứ 2, nhờ lập được công lớn, Trần Quốc Tảng lại được vua Trần cử ra Cửa Suốt trấn giữ. Hai lần trấn nhậm Cửa Suốt với hai tư thế, hai thể thức khác nhau, nhưng thực chất chỉ là một trọng trách giữ gìn một nơi quan ải Đông Bắc. Từ những sự kiện trên một số nhà nghiên cứu nhận định “Cửa Suốt là khu vực trọng yếu mà lại rất xa, nếu Trần Quốc Tảng bất trung mà đuổi ra đây thì không xác tín, mà phải là rất tin tưởng mới cử ra, lại phải tài, đại tài nữa…”.Trong thời kỳ bình công, khen thưởng cuối năm 1288, Trần Quốc Tảng được sắc phong là Tiết độ Sứ. Từ năm 1288 đến khi qua đời, phần lớn thời gian Trần Quốc Tảng giành cho việc trấn giữ vùng Đông Bắc này của Tổ quốc. Do những công lao to lớn mà vua Trần Anh Tông (đồng thời cũng là con rể của Trần Quốc Tảng), phong tước hiệu cho ông là Hưng Nhượng Vương.

     Sách sử ghi lại những ngày cuối đời của Trần Quốc Tảng ở Cửa Suốt như sau: “Ông ra Cửa Suốt được ba ngày, tự nhiên trời mưa to, gió lớn, sấm sét nổ ầm ầm. Ông thấy một phiến đá to bèn ngồi lên. Ngay lúc đó sóng nổi cuồn cuộn, nước dâng lên rất cao. Phiến đá tự nổi trên mặt nước, Hưng Nhượng Vương hóa thân ở đó, vào ngày 16/8/1311. Một lúc sau mưa tịnh, gió lặng, dân chúng kéo đến xem, thấy trên phiến đá có một cái mũ đá, mũ đá trôi đi. Ngày 1/9 năm ấy, mũ đá trôi đến địa giới Hàm Giang, rồi đến bờ sông xã Trúc Châu (tên tục là Vườn Nhãn). Già trẻ, lớn, bé trong xã đang đêm hôm đó mộng thấy một người cân đai, áo mũ chỉnh tề, đứng ở đình làng bảo rằng: “Ta là Gia Tướng nhà Trần, nay số đã hết, lại trở về đóng nơi đồn cũ giữ yên dân, nước” . Hôm sau, dân chúng ra đình xem, thấy một tảng đá và một mũ đá bên bờ sông. Đo phiến đá được 5 thước 4 tấc, ngang 2 thuớc 3 tấc, có 5 màu huyền ảo như mây. Dân làm lễ đón mũ đá về lập miếu thờ và làm biểu tâu lên vua. Vua thấy Trần Quốc Tảng là người có công, lại linh ứng nên truyền cho lập miếu thờ và phong cho làm Thượng đẳng Phúc Thần, cho 800 quan tiền công hàng năm hai mùa cúng tế vào bậc Nhà nước.” Năm 1314, đúng một năm sau Trần Minh Tông lên ngôi, đã truy tặng Trần Quốc Tảng chức Thái úy.

     Hiện nay một số sắc phong cho Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng vẫn còn được lưu giữ tại đền Cửa Ông khẳng định công trạng của Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng cũng như lịch sử hình thành, tồn tại của đền Cửa Ông

     + Sắc phong ngày 24 tháng 9 năm Tự Đức thứ 6 (1853): Sắc cho xã Cẩm Phả châu Tiên Yên tỉnh Quảng Yên từ xa xưa đã phụng thờ Trần Triều Đệ Tam Hưng Nhượng Đại Vương Chi Thần. Thần đã giúp nước che chở cho dân tỏ rõ linh ứng. Nay trẫm nối ngôi báu nhớ đến công lao to lớn của thần vậy phong là : Bản Cảnh Thành Hoàng Linh Phù Chi Thần. Lại cho phép phụng thờ như xưa, thần hãy bảo hộ cho con dân của Trẫm. Kính cẩn!

+ Sắc phong ngày 14 tháng 11 năm Tự Đức thứ 33 (1880): Sắc cho xã Cẩm Phả châu Tiên Yên tỉnh Quảng Yên từ xa xưa đã phụng thờ Trần Triều Đệ Tam Tiết Vị Độ Sứ Gia Phong Hưng Nhượng Đại Vương Bản Cảnh Thành Hoàng Chi Thần. Thần đã từng được cấp sắc phong cho phép phụng thờ. Năm Tự Đức thứ 31, nhân đại lễ mừng Trẫm ngũ tuần vậy ban bảo chiếu ân lớn lễ trọng nâng bậc. Đặc chuẩn cho phép phụng thờ như xưa để ghi nhớ ngày quốc khánh và tỏ rõ điển lệ thờ cúng. Kính cẩn!

Căn cứ vào Thần tích- Thần sắc làng Cẩm Phả, tổng Cẩm Phả, huyện Cẩm Phả tỉnh Quảng Yên chép vào năm 1938 viết : “Thần Thành hoàng Cẩm Phả là Trần Hưng Nhượng (tên huý) thường gọi là Đức Ông Cửa Suất. Ngài là con thứ ba của đức ông Trần Hưng Đạo (đời nhà Trần). Khi ấy giặc Mông Cổ sang tàn phá nước Nam, Ngài tuân mệnh Thân phụ đem quân ra trấn thủ ở Cửa Suất (Cam Pha port) đã nhiều phen làm cho quân giặc phải khốn đốn và lập nhiều công trạng… Hiện nay còn mộ Ngài ở đằng sau đền Cửa Suất trên núi (mộ xây gạch hình tròn, cao 30 phân tây, đường kính một thước tây). Ngài có 9 đạo sắc tất cả song khi nước Pháp mới sang bảo hộ, có lũ giặc cỏ bên Tầu đến tàn phá nên thất lạc mất năm đạo, nay còn 4 đạo.

Thờ ngài ở đình xã Cẩm Phả và ở đền Cửa Suất. Nơi dựng đình nguyên xưa là rừng, nơi dựng đền Cửa Suất nguyên xưa là núi cây mọc um tùm. Đền Cửa Suất ngoài thờ cúng ra không làm gì nữa. Những nơi này cấm để mả, làm nhà, cấm giết súc vật.”

Cũng theo thần tích này thì lăng mộ (lăng mộ mang tính tượng trưng) được xây bằng gạch hình tròn cao 30 phân tây, đường kính một thước tây. Hiện mộ đã được trùng tu lại, lát đá xung quanh. Phía trước có biển đề lăng mộ đức ông Trần Quốc Tảng. Phía sau có điện thờ nhỏ có bát hương và đôi câu đối: Ngọc cốt tàng linh địa; Chính khí tráng sơn hà (Xương cốt tàng linh địa. Chính khí tráng non sông).

      Ngoài thần tích, thần sắc ghi chép về Hưng Nhượng Vương Trần quốc Tảng và một số sắc phong còn lưu giữ được tại đền Cửa Ông thì tại đền Cửa Ông còn lưu giữ được bia đá, biển gỗ, hoành phi, câu đối mà qua đó ta xác định được thần chủ chính ở đền là Quốc Khảo Hưng Nhượng Đại Vương Trần Quốc Tảng, rất phù hợp với cách bài trí hiện tại của đề